Tuyển tập những bài thơ Hán Việt hay nhất để học tiếng Trung

05/05/2017 15:20 3.713 xem 0 bình luận
Thời Đường được mệnh danh là thời kì đỉnh cao của thơ văn Trung Quốc. Hãy cùng học tiếng Trung qua những vần thơ Hán Việt nổi tiếng thời Đường nhé

Tuyển tập những bài thơ Hán Việt hay

 

Học tiếng Trung qua những bài thơ Hán Việt nổi tiếng

 

Ở môn Văn học, chúng ta đã được học qua không ít các bài thơ hay nổi tiếng của Trung Quốc, đặc biệt là thơ Đường. Thời Đường được mệnh danh là thời kì đỉnh cao của thơ văn Trung Quốc với các tác giả và tác phẩm xuất sắc vẫn còn được lưu truyền cho tới tận ngày nay như Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Mạnh Hạo Nhiên, Đỗ Mục,... Hôm nay chúng ta hãy cùng đọc thử thơ Trung Quốc qua những bài thơ Hán Việt nổi tiếng nhé!

Tuyển tập thơ Hán Việt về tình yêu
Tuyển tập thơ Hán Việt về cuộc sống
Chữ an trong tiếng Hán
Chữ lộc tiếng Trung
 

1. 静夜思 /jìng yè sī/: Tĩnh Dạ Tư (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh)- Lí Bạch
 

Bản gốc:


床前明月光,疑是地上霜.
chuáng qián míng yuè guāng, yí shì dì shàng shuāng. 
举头望明月,低头思故乡.
jǔ tóu wàng míng yuè, dī tóu sī gù xiāng.


Dịch âm Hán Việt:


Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương.


Dịch thơ (Tương Như):


Đầu giường ánh trăng rọi
Ngỡ mặt đất phủ sương.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng 
Cúi đầu nhớ cố hương.


 2. 望庐山瀑布/ Wàng lúshān pùbù/:Vọng Lư sơn bộc bố ( Xa ngắm thác núi Lư)- Lí Bạch


Bản gốc:


日照香炉生紫烟,遥看瀑布挂前川.
 rì zhào xiāng lú shēng zǐ yān, yáo kàn pù bù guà qián chuān . 
飞流直下三千尺,疑是银河落九天.
 fēi liú zhí xià sān qiān chǐ, yí shì yín hé luò jiǔ tiān .


Dịch âm Hán Việt:


Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên, 
Dao khan bộc bố quải tiền xuyên. 
Phi lưu trực há tam thiên xích, 
Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.


Dịch thơ (Tương Như):


Nắng rọi Hương Lô khói tía bay
Xa trông dòng thác trước sông này
Nước bay thẳng tắp ba nghìn thước
Tưởng dải ngân hà tuột khỏi mây.


3. 回乡偶书/ Huí xiāng ǒu shū/:  Hồi hương ngẫu thư (Ngẫu nhiên viết nhan buổi mới về quê)- Hà Chí Trương
 

Bản gốc:


 少  小  离  家  老  大  回, 
Shào  xiǎo  lí  jiā  lǎo dà huí 
乡  音  无  改  鬓  毛  衰. 
Xiāng yīn wú gǎi bìn máo shuāi   
儿  童  相  见  不  相  识, 
 Ér tóng  xiāng jiàn bù xiāng shí 
笑  问  客  从  何  处  来. 
Xiào wèn kè cóng hé chù lái. 


Dịch âm Hán Việt:


Thiếu tiểu li gia lão đại hồi
Hương âm vô cải mấn mao tồi
Nhi đồng tương kiến bất tương thức
Tiếu Vấn Khách Tòng Hà Xử Lai.


Dịch thơ (Phạm Sĩ Vĩ):


Khi đi trẻ, lúc về già
Giọng quê không đổi, tóc đà khác bao
Trẻ con nhìn lạ không chào,
Hỏi rằng khách ở chốn nào tới đây.


4. 枫桥夜泊/ Fēng qiáo yè bó/: Phong Kiều Dạ Bạc- Trương Kế


Bản gốc:


月落乌啼霜满天
yuè luò wū tí shuāng mǎn tiān 
江枫鱼火对愁眠
jiāng fēng yú huǒ duì chóu mián 
姑苏城外寒山寺
gū sū chéng wài hán shān sì 
夜半钟声到客船
yè bàn zhōng shēng dào kè chuán
Dịch âm Hán Việt:
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

 

Dịch thơ:


Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
(Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Hàm Ninh)

 

5. 黄鹤楼/ Huáng hè lóu/: Hoàng Hạc Lâu- Thôi Hiệu


Bản gốc:


昔人已乘黄鹤去,
  xī rén yǐ chéng huáng hè qù, 
此地空余黄鹤楼.
cǐ dì kōng yú huáng hè lóu . 
黄鹤一去不复返,
huáng hè yī qù bù fù fǎn, 
白云千载空悠悠.
bái yún qiān zài kōng yōu yōu . 
晴川历历汉阳树,
qíng chuān lì lì hàn yáng shù, 
芳草萋萋鹦鹉洲.
fāng cǎo qī qī yīng wǔ zhōu . 
日暮乡关何处是,
rì mù xiāng guān hé chǔ shì, 
烟波江上使人愁
yān bō jiāng shàng shǐ rén chóu


Dịch âm Hán Việt:


Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

 

Dịch thơ:


Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai
(Bản dịch của Tản Đà)


6. 黄鹤楼送孟浩然之广陵 /huáng hè lóu sòng mèng hào rán zhī guǎng ling/: Tại Hoàng Hạc Lâu tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng- Lí Bạch    

Bản gốc:


故人西辞黄鹤楼, 
gù rén xī cí huáng hè lóu,   
烟花三月下阳州. 
yān huā sān yuè xià yáng zhōu .   
孤帆远影碧空尽, 
gū fān yuǎn yǐng bì kōng jìn,   
惟见长江天际流.
wéi jiàn cháng jiāng tiān jì liú .


Dịch âm Hán Việt:


Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng 
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu, 
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu. 
Cô phàm viễn ảnh bích không tận, 
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.


Dịch thơ (Bản dịch của Ngô Tất Tố):


Bạn từ lầu Hạc lên đường, 
Giữa mùa hoa khói, châu Dương xuôi dòng. 
Bóng buồm đã khuất bầu không, 
Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời. 


7. 悯农 /mǐn nóng/: Mẫn Nông- Lí Thân


Bản gốc:


锄禾日当午,汗滴禾下土.
chú hé rì dāng wǔ, hàn dī hé xià tǔ. 
谁知盘中餐,粒粒皆辛苦?
shuí zhī pán zhōng cān , lì lì jiē xīn kǔ ?


Dịch âm Hán Việt:


Sừ hòa nhật đương ngọ, hãn trích hòa hạ thổ
Thùy tri bàn trung xan, lạp lạp giai tân khổ

 

Dịch thơ:


Cày đồng đang buổi ban trưa 
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày. 
Ai ơi, bưng bát cơm đầy 
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần!


Bài ca dao là bản dịch bài thơ Mẫn nông 憫農 của Lý Thân đời Đường (Trung Quốc).

 

8. 月夜 /yuè yè/: Nguyệt Dạ- Đỗ Phủ


Bản gốc:

今夜鄜州月,
jīn yè fū zhōu yuè, 
闺中只独看.
guī zhōng zhǐ dú kàn . 
遥怜小儿女,
yáo lián xiǎo ér nǚ, 
未解忆长安.
wèi jiě yì cháng ān . 
香雾云鬟湿,
xiāng wù yún huán shī, 
清辉玉臂寒.
qīng huī yù bì hán . 
何时倚虚幌,
hé shí yǐ xū huǎng, 
双照泪痕干.
shuāng zhào lèi hén gān .


Dịch Âm Hán Việt:


Kim dạ Phu Châu nguyệt, 
Khuê trung chỉ độc khan. 
Dao liên tiểu nhi nữ, 
Vị giải ức Trường An. 
Hương vụ vân hoàn thấp, 
Thanh huy ngọc tý hàn. 
Hà thì ỷ hư hoảng, 
Song chiếu lệ ngân can?


Dịch thơ:


Châu Phu này lúc trăng soi,  
Buồng the đêm vắng riêng coi một mình.  
Đoái thương thơ dại đầu xanh,  
Tràng An chưa biết mang tình nhớ nhau. 
Sương sa thơm ướt mái đầu,  
Cánh tay ngọc trắng lạnh màu sáng trong.  
Bao giờ tựa bức màn không,  
Gương soi chung bóng lệ dòng dòng khô.
                       (Tản Đà)